Trang chủ / Chi tiết bài viết

Phụng Nghinh  (Thứ bẩy | 25/06/2011 )

hanhthien.net (Làng Hành Thiện) - Phụng nghinh là đoan rước tượng Thánh và nhiều đồ khí tự trong chùa. Ngoài 12 năm không mở hội, còn 21 năm khác làng mở hội mà không phụng nghinh. Hai giai đoạn trước gồm 18 năm (1961-1964 và 1975-1988) do quan niệm hội rước là mê tín dị đoan, lãng phí sức người sức của trong khi dân làng đang nghèo khó; Giai đoạn sau 3 năm (1970, 1971, 1974) do chiến tranh chống Mỹ.

Hành trình phụng nghinh xưa quanh làng, xuất cổng  Đông, theo đường ngang ra lối sau, tập kết các thứ ở miếu Chợ hoặc vòng ra lối trước tập kết ở Đình làng, buổi chiều sau khi thuyền trải về đích, đoàn phụng nghinh tiếp tục hành trình lên chùa, nhập cổng Tây. Đầu các xóm có hương án ngát trầm hương hoa trà quả, nghênh bái kiệu Thánh diễu qua. Phụng nghinh nay làm gọn trong buổi sáng (ngày 12 và 15) trước khi bắt đầu cuộc đua thuyền trải với hành trình rút gọn: xuất cổng Đông vòng quanh đường hạ mã nhập cổng Tây, quanh hồ nhật nguyệt vài ba vòng rồi tập kết trong sân chùa. Khi đoàn phụng nghinh diễu hành trên bờ, thuyền cò cốc dưới hồ bơi theo. Thuyền cò cốc hình thoi dài 8m, khoang giữa rộng 72cm dưới đáy và 92 cm trên mặt, bằng gỗ vàng tâm sơn đen viền son mài bóng. Mũi và đuôi thuyền vươn cao mềm mại, chạm khắc như đầu đuôi rồng. Xét về hình dáng phải gọi đó là thuyền rồng, nhưng người Hành Thiện đã quen gọi thuyền cò cốc,  có lẽ để phân biệt với thuyền rồng thờ trong toà Thánh. Đội thuyền cò cốc gồm 10 thiếu niên: một em cầm lái, một em ngồi giữa phất cờ, gõ mõ và hò giữ nhịp cho 8 em cầm bơi chèo (dài 1,1m) ngồi 4 hàng đôi trên các thang chia khoang thuyền. Đội thuyền cò cốc mặc đồng phục trắng, xưa quấn khăn và thắt lưng đỏ hoặc vàng. Đua thuyền cò cốc trong ngày hội nâu hoặc nẹp xanh xẫm. Các già, các bà quá tuổi sinh nở, di hai bên căng cầu bằng cành phan nhỏ móc vào dải khuy hai bên mép vải, cách đều nhau 0,7m. Tay lần tràng hạt, các già vừa đi vừa đọc kinh phật. Chốc chốc tiếng tù và cất lên từng hồi ngắn tu tu tu buồn tha thiết, hú gọi các linh hồn lầm lạc hãy thành tâm hối lỗi, hành thiện, tránh ác, cố bám vào cầu phật độ mà thoát khỏi địa ngục âm ty.

- Âm nhạc hoà tấu chiêng trống cái với phường ngũ lôi ( bốn trống con, 1 nạo bạc).
- Thuyền rồng là tác phẩm mỹ thuật do nghệ nhân Hành Thiện sáng tạo, để kỷ niệm Đức Thánh Tổ làm nghề chài lưới. Thuyền thếp vàng rực rỡ.
- Cờ tam giáp: ba lá cờ tiểu của ba giáp (giáp Bắc, giáp Đông, giáp Nam). Ngày nay không còn giáp, nhưng cờ giáp vẫn hiện diện trong đoàn phụng nghinh như 1 vật chứng lịch sử của tổ chức phe giáp xưa.
- Dùi đồng phủi việt: 4 thứ khí giới bằng gỗ sơn son thếp vàng: đôi đao, đôi truỳ, đôi búa, đôi roi, tất cả đều có cán dài để vác vai.
- Hương áng có bát hương bách thần, đỉnh trầm, chân nến đồng, mâm ngũ quả, bình hoa và hình mẫu thuyền bát nhã (thuyền chở phúc, cứu độ hộ dân).
- Bát bửu: 8 biển gỗ thếp vàng, cao 30cm rộng 40cm chạm trổ các hình mẫu biểu tượng các đặc trưng văn khoa.
- Âm nhạc: hoà tấu phường Già Lam gồm trống cơm, kèn tàu, hồ, nhị, níu, đàn tứ, đàn nguyệt.
- Cờ bài chúa phật: 1 đôi thêu chữ Hán:
(Hành Thiện xã hội)
(Hành Thiện phật giáo)
Cờ bái hình chữ nhật treo đứng, nhiều người Hành Thiện gọi cờ tầu, vì  giống tầu lá chuối, nhưng có người hiểu lầm là cờ của người nước tầu!
- Long đình có bát hương thỉnh phật, bài nến 1 đôi, bình hoa, đỉnh trầm và mâm ngũ quả.
- Cờ tứ linh: 4 lá cờ thêu long, ly, quy, phượng (rồng, lân, rùa, phượng).
- Hộp chiều phục vua ban Đức Thánh tổ gồm 4 hộp gỗ đựng mũ áo, đai, hài.
- Kiệu sắc: kiệu rước sắc chỉ vua phong Đức Không Lộ là phúc sư để trong khung gỗ lồng kính, là sắc chỉ Cảnh Hưng 43 (năm Quý Mão -1783).
- Lọng vàng 1 đôi bằng sa tanh 3 màu, tua vàng kim tuyến, đường kính mỗi lọng 1,4m.
- Tàn đỏ 1 đôi bằng sa tanh, đường kính mỗi tàn 0,8m, dài 1m, bọc lụa vàng, thêu long, ly, quy, phượng, tua vàng kim tuyến, cài kim sa chân chỉ hạt bột.
- Biển gỗ dẹp đường 1 đôi sơn son thếp vàng, chữ Hán đen chạm nổi:
(Hồi Tỵ: nhường đường)
(Túc Tĩnh: trật tự, nghiêm trang).
- Biển gỗ 1 đôi sơn son thếp vàng, chữ Hán đen chạm nổi:
(Giao hương hiển Thánh: Thánh hiền làng Giao)
(Lý chiều quốc sư: Quốc sư chiều Lý).
- Kiếm vàng 1 đôi bằng gỗ nhũ vàng.
- Âm nhạc: hoà tấu phường bát âm, từ nhiều năm qua chỉ còn ngũ âm là trúc, ti, kim, mộc, cách (trúc, tơ, kim khí, gỗ, da thuộc), thiếu các âm thổ, thạch, bào (đất, đá, vỏ quả bầu) nhưng vẫn quen gọi bát âm.
- Cờ bái chùa Thánh 1 đôi lá dài thêu chữ Hán:
(Từ vân ấm vạn gia: mây lành ấm lại nhà)
(Ngâm kệ truyền thiên cổ: Đọc kệ truyền ngàn năm).
- Cờ đệ nhất tối linh thêu chữ Hán:
(Thánh cung vạn tuế: Đức Thánh vạn năm).
- Quạt ngà 1 đôi: Lan quạt bằng ngà voi, bọc lụa tơ tằm, hoa văn rồng phượng. Quạt gấp dài 0,8m, quạt mở rộng 1,7m.
- Âm nhạc hoà tấu chiêng trống cái với phường ngũ lôi.
- Kiệu chính rước bài vị Đức Thánh Tổ, mũ cánh chuồn, áo đại trào vua ban, trước bài vị có bình hoa, đỉnh trầm, chân nến, mâm ngũ quả. Kiệu trạm trổ tinh xảo, sơn son thếp vàng và có màn lụa che quanh. Màn lụa màu hồng thêu hoa văn, với tua vàng kim tuyến rực rỡ. Các cầu đòn khiêng kiệu đều chạm trổ đầu rồng thếp vàng. Trong hành tiến, kiệu chính luôn xô lệch ngả nghiêng tả hữu, tiến nhanh chậm và dừng bất kỳ nhưng không đổ, gọi là kiệu bay, rất hấp dẫn du khách. Với phật tử mộ đạo, kiệu bay mang ý nghĩa tâm linh, nhiều bà mẹ bế con chui qua gầm kiệu để lấy may. Kiệu bay do cấu tạo bộ dòn khiêng luôn ở thế cân bằng không bền, do ngõng cối xay tiếp nối đòn ngang với đòn dọc hơi lỏng lẻo có chủ ý.
- Quạt vả 1 đôi che 2 bên kiệu chính. Quạt hình mai rùa, bọc lụa hồng thêu hoa văn, chim muông hoa lá, tua vàng kim tuyến.
- Cờ hội chủ. Xưa ông hội chủ ngồi võng do trai làng khiêng đi sau cờ. (trai làng do các phe cắt cử để phục vụ tạp dịch lễ hội). Nay hội chủ có thể không hoặc đi bộ sau cờ, không có cáng võng.
- Cờ bái chùa Thánh 1 đôi lá dài thêu chữ Hán:
(Lý thủy đằng không: lướt nước bay cao)
(Hô phong hoán vũ: hô gió gọi mưa).
- Quạt ngà 1 đôi.
- Âm nhạc: hòa tấu phường bát âm (nhiều năm qua chỉ còn ngũ âm).
- Kiệu hờ cũng chạm trổ sơn son thếp vàng như kiệu chính nhưng cũ hơn; cũng có đỉnh trầm, chân nến, mâm ngũ quả… nhưng không có bài vị và mũ áo. Hiện còn tồn tại những ý kiến khác nhau về kiệu hờ.
- Một số bô lão, chức sắc và ông lái đi cuối đoàn phụng nghinh.
- Hai người chấp hiệu (điều hành đoàn phụng nghinh và dẹp đường) đi lại cơ động từ đầu đến cuối đoàn phụng nghinh.

Những người phục vụ phụng nghinh (không kể các già dải phù kiều) gọi chung là phù giá, các cụ xưa kén chọn rất nghiêm. Các chức sắc trong làng và các vị hào xã nhiêu mua bằng tiền (quan viên bậc 2) mới được bưng miều phục của đức Thánh và cầm cờ lệnh, cờ đệ nhất tối lịnh. Văn sinh nhất nhị trường vác bát bửu và các cờ biểu khác. Võ sinh vác dùi đồng phủ việt (văn sinh và võ sinh là các quan viên bậc 3). Phù giá các loại kiệu là trai tơ có chiều cao tương đối đồng đều. Nay phù giá chỉ cần đồng đều chiều cao với mỗi loại kiệu. Tổng số phù giá khoảng 170 người các loại, nhưng xưa phải kén đến 300 người để thay phiên nhau, nay hành trình phụng nghi rút ngắn nên chỉ kén 250 người. Đoàn diễu hành nay hơn 300 người gồm cả phù giá, các già dải phù kiều và người đi theo. Đồng phục phù giá xưa rất đẹp nhưng nay đã cũ, bạc màu: khăn màu quấn đầu, áo nẹp ngắn hoặc dài (bằng nỉ đỏ thêu vàng, nẹp xanh), khoác ngoài quần áo trắng, xà cạp quấn chân màu đỏ hoặc nâu. Nhạc công mặc đồng phục tuỳ phường, xưa thường đội nón chóp. Các già dải phù kiều và lão bà đi bên đều mặc đồng phục nâu. Người xem chen chúc 2 bên lề đường, đoàn rước diễu qua, 1 số người đi theo kiệu.

Nguồn: Sách Hành Thiện Quê Ta
Người gửi:Vũ Quang Thành



Tin Bài khác

Liên kết

Nét tổng quan về làng Hành ThiệnGửi bài viết, tài liệuFacebook làng Hành Thiện

Đăng ký nhận tin

Thiet ke web ha noi, thiet ke logo ha noi