Trang chủ / Chi tiết bài viết

Vài giả thuyết về gốc gác cư dân Làng Hành Thiện ( NGUT. TS. Đặng Đức Thi)  (Thứ hai | 24/09/2012 )

Đã có những đoán định khác nhau về gốc gác cư dân làng Hành Thiện. Bài viết này bàn them về một vài khía cạnh của những đoán định đó và thử nêu thêm vài giả thuyết về gốc gác cư dân làng Hành Thiện

 1. Một số cư dân làng Hành Thiện có gốc gác ở làng Giao Thủy

Làng Giao Thủy thời Trần tọa lạc ở vùng đất phía tả ngạn sông Hồng thuộc huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình. Đó là vùng đất mà sau này là địa bàn của các xã Hộ Xá, Dũng Nghĩa, Nhương Đông, …
 
Sở dĩ có thể kết luận rằng một số cư dân làng Hành Thiện có gốc gác ở làng Giao Thủy là do có các bằng chứng sau đây:
 
a/ Dân các làng Hộ xá, Dũng Nghĩa, Nhương Đông và cả Hành Thiện nữa, đều thờ phụng thiền sư Dương Không Lộ chẳng khác gì thần thành hoàng làng mình. (Thiền sư Dương Không Lộ sinh ra ở làng Giao Thủy).
 
b/ Hai ngôi chùa ở làng Dũng Nghĩa và làng Hành Thiện đều có tên chữ là Thần Quang Tự và dân gian đều gọi là chùa Keo (Keo trên và Keo dưới).
 
Hẳn là cư dân làng Hành Thiện phải là một bộ phận cư dân làng Giao Thủy di cư sang nên mới có các hiện tượng trên. Những bằng chứng này ủng hộ quan điểm rằng lai lịch làng Hành Thiện là từ làng Giao Thủy của các cụ Đặng Xuân Bảng, Đặng Xuân Viện đã nêu ra trong Hành Thiện xã chí.
 
2. Một số cư dân làng Hành Thiện có gốc gác từ hương Tức Mặc

Đây là giả thuyết mới của chúng tôi. Trước khi có danh xưng Hành Thiện, mảnh đất này có tên là Hành Cung (Hành Cung trang, xã Hành Cung, tổng Hành Cung). Tuy nhiên, có thể nghĩ rằng đây không phải là hành cung thực sự, vì 2 lý do:
 
a/ Không thấy tư liệu nào cho hay các vua nhà Trần có tuần du, du ngoạn qua đây.
 
b/ Không thấy bất cứ dấu vết của lầu các, cung điện nào đã được xây dựng khả dĩ có thể cho rằng nơi đây đã từng là một hành cung. Vây tại sao nơi đây lại được gọi là Hành Cung? Chúng tôi ngỡ rằng có một số cư dân nào đó của Hành cung Tức Mặc đã di chuyển đến đây và mang theo cả tên gọi rất tự hào của họ là Hành Cung. (Theo thống kê của Đặng Xuân Viện trong Hành Thiện xã chí thì vào năm 1933-1934 ở hành Thiện có 16 xuất đinh là người họ Trần. Chúng tôi nghĩ rằng họ vốn gốc từ hương Tức Mặc).
 
3. Phần khá đông cư dân làng Hành Thiện có gốc gác từ nhiều địa phương khác nhau.
 
Giả thuyết trên dựa vào 3 căn cứ sau đây:
 
a/ Thuở mới lặp làng, Hành Thiện gồm 3 giáp: Giáp Bắc, giáp Đông và giáp Nam. Mỗi giáp lại thờ phụng một vị thần riêng như là sự thờ phụng một vị thành hoàng (miếu thờ ở ba nơi khác nhau, về sau mới qui về một nơi). Giáp Đông thờ ông tiên Đế Thích, giáp Nam thờ Đông Hải đại vương, giáp Bắc thờ Nam Hải đại vương.
 
Ông tiên Đế Thích, qua truyện cổ tích Hồn Trương Ba da hang thịt, gắn với dân làng Thịnh Yên, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương, Hà Nội. Nơi này có một ngôi chùa dựng từ thế kỷ XV – XVI để thờ phụng Đế Thích thường gọi là chùa Vua, nay thuộc quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. (1)
 
Đông Hải đại vương, theo Đặng Xuân Viện chính là Đoàn Thượng. Đoàn Thượng chống lại nhà Trần, thua trận chạy đến thôn Bần Yên Nhân (Yên Nhân – An Nhân), huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên thì chết. Dân làng lập miếu thờ như thành hoàng. (2)
 
Nam Hải đại vương, theo Đặng Xuân Viện chính là thủy thần, dân làng thờ thủy thần để cầu mong thoát khỏi thủy tai. Nhưng Phạm Đình Nhân trong “Họ Phạm, truyền thống và những đóng góp trong lịch sử”có đoạn viết: “Theo truyền thuyết và thần tích thì Nam Hải đại vương có tên là Phạm Hải, sinh vào thời Hùng Vương, vốn là thủy thần xuất thế, … có công giúp dân làng An Cố, tổng Quảng Nạp (nay thuộc huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình) trừ thiên tai, lại có công cùng với Tản Viên Sơn thánh diệt Thục, … vua Hùng, khi nghe tin Phạm Hải tạ thế,vô cùng thương tiếc, phong làm Nam Hải đại vương và ban cho dân làng An Cố trâu lợn, tiền bạc để tế thần và xây miếu thờ…” (3)
 
Vậy 3 địa phương sau đây:
- Làng Thịnh Yên, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương Hà Nội
- Làng Bần Yên Nhân huyện Mỹ Hào, Hưng yên.
- Làng An Cố, tổng Quảng Nạp, Thụy Anh, Thái Bình.
Có thể là những gốc gác của cư dân làng Hành Thiện.
 
b/ Cư dân làng Hành Thiện bao gồm nhiều dòng họ khác nhau: 17 dòng họ tất cả.
Theo sổ đinh năm 1933, đông nhất là họ Nguyễn với 830 suất, họ Đặng 638 suất, kế đến là họ Phạm với 173 suất, họ Vũ 90 suất, họ Đỗ 68 suất, họ Đào, họ Lã, họ Tống, họ Đinh, … (4)
 
Với số lượng các dòng họ nhiều như thế, cho phép chúng ta nghĩ rằng cư dân làng Hành Thiện có gốc gác từ nhiều địa phương khác nhau.
 
c/ Cư dân làng Hành Thiện làm nhiều ngành nghề thủ công khác nhau.
Đông đảo nhất là nghề dệt vải lụa. Ngoài nghề dệt vải lụa ra là các nghề cơ khí, mộc, gạch ngói, nung vôi, thảm cói, mỹ nghệ vàng bạc, đồ trang sức, đồ thờ cúng, làm giấy, bột sắn dây, nấu rượu, ép dầu lạc, làm bánh kẹo, …. Có rất nhiều ngành nghề thủ công như thế chứng tỏ rằng cư dân Hành Thiện từ nhiều nơi khác đã hội tụ về đây.
 
Bởi lẽ, nghề dệt vải lụa là nghề thủ công chủ yếu của cư dân Hành Thiện, điều đó khiến chúng ta nghĩ tới những trung tâm dệt thủ công như Hà Đông, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Hải Dương, Vĩnh Yên, … (5). Phải chăng những địa phương này đều có mối liên hệ gốc gác về cư dân với làng Hành Thiện.
 
Như vậy, các thuyết về gốc gác của họ Đặng và chi họ Đặng Đức là từ Lương Xã, Chương Mỹ, Hà Đông, từ Giẽ Hạ, Phú Xuyên, Hà Đông mà GS Trần Quốc Vượng, GS Đặng Đức An rút ra từ gia phả của người xưa là có lý, nhưng chưa đầy đủ. Vấn đề xác định gốc gác của cư dân làng Hành Thiện là một vấn đề rất phức tạp. rất nhiều điều chưa rõ, hoặc mới chỉ là những phỏng đoán. Quan điểm cơ bản của chúng tôi là cư dân làng Hành Thiện có gốc gác từ nhiều địa phương khác nhau. Đất Hành Thiện là đất tụ hội từ phía trên đi xuống. Đó là một thế mạnh đặt biệt của Hành Thiện. Chính điều này giải thích vì sao Hành Thiện là một làng quê mà lại mang dáng dấp của một thị tứ có tính chất hiện đại như nhận xét của Pierre Gourou (6).
 
Chú thích:

(1) : Xem Đình chùa lăng tẩm nổi tiếng Việt Nam, Trần Mạnh Thường chủ biên, NXB VHTT Hà Nội 1998 trang 199.
(2) Xem Việt điện u linh tập lục toàn biên. NXB Sống Mới, SG 1974. Bài Truyện Đoàn Thượng (Anh liệt chính khí Đoàn tướng quân).
(3) Xem Danh tưởng Phạm Tu và họ Phạm trong lịch sử. NXB VHTT 1999 trang 65 – 66.
(4) Xem Hành Thiện xã chí. Hành Thiện tương tế hội ấn hành SG 1974 trang 13 – 15.
(5) Pierre Gourou Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ, TP. HCM 2003 trang 419.
(6) Như trên – trang 154.
 
 
Tháng 08 năm 2012
 
NGUT. TS. Đặng Đức Thi
 
Th.S Kinh tế Đặng Đức Văn
 

Nguồn: Tác giả gửi
Người gửi: NGUT. TS. Đặng Đức Thi



Tin Bài khác

Liên kết

Nét tổng quan về làng Hành ThiệnGửi bài viết, tài liệuFacebook làng Hành Thiện

Đăng ký nhận tin

Thiet ke web ha noi, thiet ke logo ha noi