Trang chủ / Chi tiết bài viết

Tản mạn về làng Hành Thiện  (Thứ ba | 20/03/2012 )

Hồi cuối năm 1992, sau khi tốt nghiệp đại học ở Hà Nội, tôi được cậu Hiền dẫn vô Nam để nhờ gia đình anh chị Tuấn Thơm cùng quê và quen biết với cậu tôi giúp đỡ xin việc. Hai cậu cháu đi theo một tàu chở hàng mà bữa đó cậu tôi áp tải toa hàng chở sắt xây dựng vào Nam. Vì là toa hàng chở sắt nên không có mui che, cậu cháu phải căng áo mưa một góc che tạm để nằm, ngồi. Chuyến hành trình kéo dài gần một tuần lễ mới vào được đến Sài gòn. Có lẽ đây sẽ là chuyến hành trình mà tôi nhớ nhất trong cuộc đời mình. Nắng cát cháy miền Trung, hơi nóng ngùn ngụt bốc lên từ đống sắt thép. Rồi mưa xuống, hai cậu cháu phải co rúm lại một góc, cố tránh những hạt mưa xiên, đan chéo rát mặt. Rồi đêm, sương xuống trời đã lạnh, nằm quăng mình trên đống thép lại càng lạnh hơn, lưng thì đau ê ẩm do những thanh thép hằn lên…Tuy vậy, cũng từ chuyến đi này mà tôi biết thêm được bao điều từ cậu tôi. Một núi kho báu kinh nghiệm có được khi là lái tàu, rồi giám sát an toàn tàu khách Bắc – Nam, cậu say sưa kể cho cháu nghe về từng địa danh mà tàu đi qua gắn với ít nhiều lịch sử mà tôi đã được học hoặc đọc qua. Nào là cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa); Núi Thành (Quảng Nam); Vũng Rô…Hành trình đáng nhớ này xin đành gác lại để kể cho quí vị vào một dịp khác.

Tản mạn về làng Hành Thiện – Hội bơi trải đứng và ngôi chùa vắng sư
 
Anh chị Tuấn Thơm sắp xếp cho tôi ở tạm nhà anh Sơn gần đó. Anh Sơn quê ở Hà Tây, lớn hơn tôi một tuổi. Lúc đó anh Sơn mới làm xong một căn nhà cấp 4 chưa hoàn chỉnh và anh ở với một cậu em trai là Nhâm. Ba anh em chúng tôi sống chung với nhau một thời gian khá dài. Anh Sơn tính tình vồn vã và nói khá nhiều, khác hẳn với cậu em trai chân tình, hiền lành nhưng lặng lẽ.
 
Từ hội bơi trải đứng…  
 
Nói chuyện loanh quanh khắp thiên hạ, cuối cùng cũng lại về chuyện làng quê của nhau. Anh Sơn có vẻ rất thành thạo về làng Hành Thiện. Thì ra, anh đã về thăm quê tôi một vài lần vào dịp lễ hội, và anh cũng đã được nghe anh chị Tuấn Thơm và bạn bè người Hành Thiện trong đó kể về làng. Chả trách anh rành đến vậy. Cách anh nói về làng tôi tỉnh bơ, không thờ ơ mà cũng chẳng quá bận tâm cho lắm. Cuối cùng, anh nói câu đúc kết:
 
- Về làng mày, tao thấy hai điều hổng giống ai (anh nhại giọng Sài Gòn): bơi trải thì bơi trải đứng, chùa thì không có sư ở. Bơi trải thì phải chèo ngồi chứ đâu ai chèo đứng như quê mày. Đã là chùa thì phải có sư ở chứ. Đúng là chẳng giống ai!
 
Tôi há hốc miệng, nhìn anh trân trân. Những điều đặc sắc, duy chỉ có ở làng tôi thế mà lại bị anh phán một câu “ác” vậy sao? Hay là tôi có trót nhỡ nói điều gì về quê anh làm anh phật ý nên nói lại cho bõ tức chăng? Thực tâm, tôi mong đợi những lời có cánh của anh về làng mình. Nào là đây là nơi có truyền thống hiếu học lâu đời, có nhiều người làm quan to, đỗ đạt cao, có hội bơi trải rầm rộ nức tiếng gần xa…

 


Hình ảnh thuộc hội thi bơi Trải ngày 25 tháng 9 năm Tân Mão. Ảnh Vũ Thành
 
Cho tới tận bây giờ, mỗi khi nhớ về ngày hội bơi trải của làng, lòng tôi lại rộn ràng như chính tôi là người trong cuộc đua vậy. Nó hoan hỷ, rầm rầm gấp gáp như mỗi nhịp dậm chân rướn thuyền lên phía trước. Nó ào ạt theo tiếng hò khoan, hô nhau lướt tới dậy cả một khúc sông. Trên mỗi chiếc trải là ông lái cùng chín thanh niên lực lưỡng ra sức chèo. Họ đứng thành hàng đều tăm tắp, hiên ngang đưa tay chèo về phía trước vục nước, rồi lại ngẩng đầu thẳng người dậm chân dúi thuyền tiến lên. Trông họ phóng khoáng, khỏe khoắn, tư thế sẵn sàng vượt lên sóng gió. Toàn thân, từ đầu cho tới tay chân, đều nhịp nhàng gắng sức. Một môn thể thao vận động cơ bắp toàn thân. Dáng người ấy, tư thế ấy, khoáng đạt là thế, phải gọi là đặc sắc, là bản sắc riêng, là độc nhật vô nhị, là cái hồn riêng của làng tôi mới đúng. Đã từng xem hội bơi thuyền ở nhiều nơi, ở trong Nam, sang Cam-pu-chia, Lào và Thái Lan với các sắc thái và cung bậc thú vị khác nhau, song tôi phải công nhận và hãnh diện rằng hội bơi trải Hành Thiện quê tôi quả là rất độc đáo mà ít nơi nào sánh được.
 
Đến ngôi chùa vắng sư…  
 
Tôi có duyên lành được đến với giáo lý đạo Phật cũng mới đây thôi. Duyên may ấy được vợ tôi mang lại. Lòng sáng ra nhiều khi biết về những điều Phật dạy. Và tôi thấy điều anh Sơn nói ở trên về ngôi chùa không có sư của làng là điều đáng phải suy ngẫm. Đó có phải là một nét đặc sắc, độc đáo riêng để tô vẽ hay đây là một thiệt thòi không nhỏ của dân làng? Từ đó, tôi cứ trăn trở và ước mong hoài, giá mà chùa có được một vài vị sư về đây trú ngụ và hành đạo thì thật là phước đức lớn cho dân làng ta vậy.
 
Đôi ba lần, tôi có dịp ghé thăm chùa Hoàng Pháp ở Hóc Môn, Sài Gòn (www.chuahoangphap.com.vn), được gặp gỡ Thượng tọa Thích Chân Tính, trụ trì chùa Hoằng Pháp. Được gặp thầy, trò chuyện với thầy cũng như ghé thăm trang mạng internet của chùa thầy, tôi hiểu rõ hơn và kính cẩn ngưỡng mộ sự nghiệp hoằng pháp độ sinh của thầy nói riêng, cũng như của các vị sư nói chung. Tại chùa Hoằng Pháp, thường xuyên diễn ra những khóa tu dành cho dân chúng. Thành phần tham gia không chỉ là những ông già, bà lão tuổi đã xế chiều nay về nương tựa Phật những năm cuối đời như chúng ta vẫn nghĩ, vẫn thường quan niệm xưa nay. Rất nhiều những nam thanh, nữ tú kéo về tu tập, nghe giảng pháp thoại, nguyện tu tâm học đạo để ra cuộc đời sống đẹp hơn, có ích hơn. Đặc biệt hàng năm có các khóa tu mùa hè dành cho lứa tuổi học trò mới lớn độ tuổi cấp 2, cấp 3. Những khóa tu này thường kéo dài một tuần và luôn chật kín người đăng ký. Mỗi khóa học thường có khoảng 3,000 nam sinh, nữ sinh tham gia. Đặc biệt có khóa tu hè với 6,000 học trò đăng ký và chùa phải phân làm 2 khóa nối tiếp nhau vì chùa chỉ đủ khả năng lo chỗ ăn, chỗ ở cho 3,000 em học sinh mỗi khóa tu mà thôi. Điều đó đủ nói lên sức cuốn hút diệu kỳ mà giáo pháp của Phật mang lại trong cuộc sống thường nhật của chúng sinh. Xem một số băng các thầy giảng cho lứa tuổi học trò về tình thương đối với cha mẹ, con cái, thấy cả một hội trường lớn, em nào em lấy đều sụt sùi khóc, nước mắt chảy ròng trên má, tôi hiểu rằng giáo lý đạo giác ngộ đã nảy nở trong các em. Hạt giống lòng từ ái ấy, hôm nay các đệ tử của Phật vẫn tiếp tục tâm nguyện của người để gieo rắc và vun trồng khắp nơi. Được tiếp xúc với đạo Phật, chắc chắn cái phần tốt, phần phật tính của mỗi người sẽ trỗi dậy và khỏa lấp hết những điều ác, những thói xấu ươn hèn vẫn còn hiện diện đâu đó trong thân tâm họ để rồi người ta sẽ sống tốt hơn. Gia đình tốt hơn, xã hội lành mạnh thêm là vậy. Xem các chương trình “Phật pháp nhiệm màu”, “Phật pháp cứu đời tôi”, có biết bao mảnh đời thật, từ những người nghiện ma túy, những kẻ cờ bạc, những tay anh chị giang hồ, đến những tấm thân tủi nhục, bị chồng bạo hành, gái giang hồ…, giờ đây đã về qui y tam bảo, sống đời lương thiện. Nghe họ nói chuyện trước đại chúng, kể về những năm tháng lầm lạc của mình mới thấy được pháp âm vi diệu của đạo Phật thế nào trong việc giáo hóa họ.  
 
Con đường hoằng pháp độ sinh của thầy Chân Tính còn bao vất vả nhưng thầy chẳng từ nan. Thầy rong ruổi khắp nơi, hết trong Nam, ngoài Bắc, lại ra nước ngoài, từ châu Âu sang châu Mỹ, Úc rồi các nước làng giềng như Cam-pu-chia, Lào, Thái Lan. Nơi nào có người Việt sinh sống là nơi đó có dấu chân thầy. Chúng tôi có dịp đón tiếp thầy ở thủ đô Viêng Chăn, Lào vào cuối năm ngoái tại chùa Bàng Long của người Việt bên này. Thầy tâm sự với tôi những trăn trở của mình về việc truyền bá và giữ vững đạo pháp trong cộng đồng người Việt nơi xa xứ. Với mục đích này, thầy nhờ tôi tìm giúp một lô đất khoảng 1 ha tại Viêng Chăn để thầy xây dựng một ngôi chùa Việt, chi nhánh chùa Hoằng Pháp tại đây. Được biết, thầy cũng hay ra Bắc thuyết pháp cho dân chúng ngoài đó khá thường xuyên. Sau mỗi buổi pháp thoại ngoài Bắc trở về, thầy cảm thấy vui và lòng nhẹ nhõm. Vui hơn vì càng ngày dân ta ngoài Bắc càng hiểu và gần gũi hơn với giáo lý của Phật. Họ đã bớt u mê nhiều, không đánh đồng đạo Phật với mê tín dị đoan và họ xa lánh dần các việc đồng bóng, bói toán. Nhiều người đã tự biết sửa mình, lấy lời răn dạy, giác ngộ của Phật làm tiêu chí sống cho mình để tự vươn lên, không cầu khấn hư ảo ngoài miệng mà chú ý hộ trì chánh niệm nơi thân tâm mình để đạt tới quả vị giải thoát. Tôi bỗng bùi ngùi nhớ về những ngày hội làng Hành Thiện. Vẫn còn đó những việc lên đồng bói toán mà người ta hoặc là không hiểu rõ, hoặc là mạo danh đạo Phật. Vào chùa, vẫn còn đó cảnh chen lấn xô đẩy giữa khói nhang mịt mù, cay xè mắt để đốt và cố cắm cả bó nhang to tướng vào bát nhang. Những người trong ban tổ chức bảo vệ lại vội vàng vơ nhang đang cháy dở bỏ bớt đi, kẻo sinh ra hỏa hoạn khôn lường. Sau nhà thờ Phật, bên trong khu thờ Thánh, người ta vẫn cúng xôi gà, đầu lợn,…Đức Thánh Khổng Lộ chắc chắn không hài lòng về việc này. Ngài đã là một đệ tử của Phật, dựng lên ngôi chùa thờ Phật để quì xuống dưới chân Phật, xin về nương tựa nơi người, có lẽ nào ngài lại sát sinh, ăn mạng như thế nữa. Xin hãy dâng cúng hoa tươi, nước thanh khiết và các món chay tịnh lên ngài, như ta vẫn dâng lên Phật vậy. Tôi mong một ngày nào đó rước được thầy Chân Tính ghé thăm làng, dẫu chỉ một ngày hay một vài tiếng, và tập trung được dân làng để nghe thầy giảng pháp. Tôi ước mơ chùa làng ta có sư về ở là thế.    
  
Tôi đã đọc qua một vài bài lý giải tại sao chùa làng ta không có sư ở. Một số người có nói đến nguyên nhân như là một câu chuyện cổ tích huyền thoại: thiền sư Không Lộ dựng lên chùa nhưng dân làng ở đây không mấy mặn mà với khói nhang, tượng phật. Thế là giận dữ ngài mới dời chùa đi nơi khác với lời nguyền mãi mãi sẽ không có sư nào đến ở đất Hành Thiện. Có ý kiến lại cho rằng do những chướng khí hay sự không hợp đất, hợp nước mà có những vị sư khi về ở đây sinh ra đau ốm rồi phải mau chóng dời đi. Tôi thì không nghĩ như vậy. Cuộc sống tâm linh luôn hiện hữu nơi mọi người, mọi nhà một cách trang nghiêm và thành kính. Các sư, đệ tử của Phật, những hạt giống được Phật gieo trồng từ hàng ngàn năm trước, có lòng tin tuyệt đối vào đạo pháp giác ngộ của người. Những ốm đau nơi đất lạ quyết không làm các sư nản trí, mà họ nguyện đi vào đời hành đạo chẳng sợ hiểm nguy. Các sư nương tựa nơi Phật, được người chỉ lối đưa đường để vượt thoát mê lầm và vô minh, hành trì theo chánh pháp để hóa độ muôn người, đưa đến an lạc và giải thoát. Do vậy, mọi sự mê tín hay sợ hãi về chướng khí hay không hợp đất hợp nước là chuyện đơm đặt mà thôi. Phật đã dạy, dù ta có tế lễ khẩn cầu suốt cả cuộc đời ta cũng chẳng tới đâu nếu không tu tập quán chiếu để diệt trừ vô minh và các phiền não khác để đạt tới bến bờ giải thoát. 

 


Quang cảnh chùa Keo Hành Thiện từ trong nhìn ra. Ảnh: Vũ Thành 
 
Tôi nghĩ tới một nguyên nhân dung dị và đời thường nhất: các sư tới trú ngụ thì sẽ ở đâu, sinh hoạt vệ sinh cá nhân thế nào khi mà hiện tại trong khuôn viên chùa chưa có lấy một phòng cho các sư ở, không có nhà vệ sinh, không gian xung quanh chùa vô cùng bức bối chật hẹp, cây cối không có, vườn cảnh cũng không, phía trước chỉ là một sân gạch bỏng rát, không thích hợp cho việc tọa thiền và thiền hành…Những nhà sư chân chính sống một cuộc sống thanh tao, đạm bạc nhất. Họ không ngủ trên giường cao, chiếu đẹp, không lấy gì làm của riêng cho mình. Tuy nhiên, muốn sư về ở được, tối thiểu phải có phòng để cho các sư ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân và nghỉ ngơi. Rồi nữa, về không gian, phải có vườn tược rộng rãi với cây cối và hoa trái. Đó không phải là để cho các sư hưởng thụ mà chính là giúp cho việc hành đạo hiệu quả hơn. Ta thử tưởng tượng xem, giữa một vườn cây râm mát, thoảng thoảng mùi hoa sứ trắng, ngan ngát mùi búp sen hồng quyện hòa với gió mát thổi dưới hồ lên, các sư ngồi tọa thiền tĩnh lặng trong tư thế hoa sen, tinh tấn hành đạo giúp đời. Hay dưới tán cây râm mát, một số cư dân viếng chùa đang say sưa nghe các sư thuyết pháp, giảng dạy những điều gần gũi và dung dị đời thường: về tình thương giữa cha mẹ và con cái, về những điều nên làm và những điều phải tránh, về cách sống tỉnh thức để tránh bớt những khổ đau, phiền muộn, và cũng là để tạo sự an lạc cho mình và cho người xung quanh, về cách sống đơn giản, tránh giết hại sinh vật, biết tôn trọng tư hữu của kẻ khác, biết tránh việc tà dâm, biết nói lời chân thật và tránh việc rượu chè say sưa…Rồi bao nhiêu chuyện rắc rối đời thường, những phiền muộn trong cuộc sống của các phật tử giãi bày đều được các sư giảng giải “gỡ rối tơ lòng”. Người nào dẫu có tấm thân hay thể xác đau đớn đến mấy, khi đến cửa chùa đều được các sư giang tay nâng đỡ, chở che để rồi hiểu ra, vui vẻ sống có ích và vượt thoát những khổ đau hiện tại. Ngày xưa, thời Phật hành đạo, người đã độ được tướng cướp Ương-cột-ma, một tên sát nhân nghê gớm với võ nghệ cao cường. Vì một mối thù nào đó với con người mà tên này đã hạ sát nhiều người, và sau khi hạ sát nó còn chặt ngón tay của người ta để xâu thành chuỗi đeo vào cổ. Nhà vua điều động quân lính bao vây tiêu diệt nhưng mấy lần đều thất bại. Phật đã hóa độ được hắn, khuyên bảo Ương-cột-ma dừng lại trên con đường hận thù và bạo động. Phật giảng cho hắn nghe, trong tất cả các loài sinh vật, kể cả loài người, loài nào cũng muốn sống, sợ chết vì vậy ta phải có lòng thương và đem tình thương ấy mà bảo vệ sự sống của muôn loài…Tên tướng cướp quì xuống dưới chân Phật, ôm mặt khóc nức nở, nguyện xin hối cải, bỏ ác làm lành. Sau đó, Ương-cột-ma trở thành một trong những vị đại đức lớn của Phật.
 
Tôi thiết nghĩ, mở rộng chùa, tạo dựng thêm một số cơ sở vật chất và xin giáo hội phật giáo Việt Nam thỉnh một vài vị sư về ở là việc nên làm. Được như vậy, lợi sẽ rất nhiều. Chúng ta sẽ không chỉ tự hào về một ngôi chùa rêu phong cổ kính, một di tích lịch sử đã xếp hạng mà trên hết toàn thể dân làng sẽ được hưởng một nền giáo huấn, một đạo pháp thâm diệu của Phật do các vị sư tăng chân chính chỉ bày. Vấn đề còn lại là mở rộng như thế nào? Hiện trạng chùa được xây dựng với ba dãy hành lang khép kín, xung quanh là nhà dân rất khó mở rộng, chỉ còn khoảng tam quan phía trước và khu đất thổ diệc mạ. Tôi tin rằng nếu toàn dân và chính quyền đồng thuận, đồng lòng thì sẽ tìm ra hướng giải quyết và làm được. Thuở xưa, thời Phật hành đạo, thương gia - cư sĩ Tu-đạt-đa đã mang vàng lá trải đầy khu vườn của một vị hoàng tử, nằng nặc đòi mua bằng được khu đất rất đẹp ấy, xây dựng lên khu tu viện Kỳ Viên để kính dâng Phật và giáo đoàn của người làm nơi trú ngụ và hành đạo. Giờ đây, nếu có một dự án mở rộng, tôn tạo nghiêm túc để thỉnh các sư về, nhà nước và nhân dân cùng góp sức, thì sẽ mau chóng thành hiện thực. Chắc chắn, sẽ không thiếu các nhà hảo tâm gần xa, luôn hướng về nơi quê cha đất tổ để cúng dường, làm việc thiện, đóng góp cho làng quê thân yêu, vì tương lai cháu con của đất nước. Tôi mơ về một tương lai không xa, khi nhắc tới chùa Hành Thiện, người ta sẽ tự hào kể về tên tuổi của các sư, các vị đại đức lớn trong chùa, những người đã xây những viên gạch đầu tiên trong công việc hoằng pháp tại làng, xóa đi lời nguyền hoang đường về một ngôi chùa không sư.
 
Sẽ có những tiếng nói không đồng thuận hay phản đối là điều dễ hiểu. Song mong rằng, sự phản đối sẽ không xuất phát từ mối lo mất mát về bổng lộc, tư lợi nào đấy. Ở đời, đã biết đến phật pháp, người ta sẽ sống tốt hơn, không dám tư túi, tham ô, lấy của người khác làm của riêng mình, đặc biệt là tiền công đức, cúng dường của phật tử gần xa. Nhân quả nhãn tiền, ứng nghiệm ngay trong đời này kiếp này với họ chứ chẳng đợi đến kiếp sau. Làm việc lành được hưởng phước lành, gieo nhân ác thì bị điều ác báo ứng. Với con mắt thiên nhãn minh và thiên nhĩ minh, Phật nghe nhìn thấu suốt quá khứ, hiện tại và tương lai, mang lòng từ bi, đức độ để răn dạy chúng sinh. Giáo lý của Phật không phải là kết quả của suy luận mà là hoa trái của thực chứng. Hãy lắng nghe và đừng bỏ qua. Phải biết run sợ, đừng nghĩ rằng tại sao nhiều người làm việc xấu mà vẫn sống xa hoa, hưởng lạc sờ sờ ra đấy. Xin thưa rằng chưa tới lúc đó thôi, tàn hoại đến không hề báo trước, hoặc may mắn cho những kẻ đó còn được hưởng chút nghiệp tốt từ kiếp trước để lại. Nhưng nếu không tu tỉnh ngay mà cứ tiếp tục tạo nghiệp xấu thì thảm họa sẽ đến ngay thôi. Cũng như vậy, có những người đời này, kiếp này sống thánh thiện, làm việc tốt mà vẫn long đong, lận đận hoài.  Xin đừng buồn nản, nghiệp chướng của họ kiếp trước vẫn dày. Hãy gắng tu tâm tích đức để hóa giải nghiệp xấu kiếp trước để lại, hầu mong sớm có cuộc sống bình yên trong tương lai. Ngày xưa, đại đức Mục Kiền Liên sống cuộc đời phạm hạnh, suốt đời đi theo chánh pháp. Với đức hạnh to lớn của mình, đại đức đã cùng với nhiều vị khất sĩ khác ra sức chú nguyện và hộ niệm cho mẹ mình, hóa giải được những nghiệp ác cho bà, thoát khỏi kiếp ma chướng dưới địa ngục. Từ đó mới sinh ra lễ ngày rằm tháng Bảy hàng năm để mọi người chú nguyện, hộ niệm cho các bậc cha mẹ đã mất và hồi hướng công đức cho những người làm cha mẹ còn sống được hạnh phúc bền lâu. 
 
Đứng bên bờ sông Mê-kông, nơi dòng chảy chia đôi hai nước Lào và Thái Lan, ngắm bình minh vừa ló dạng, lòng tôi chan hòa, đắm mình trong làn gió mát lành từ dưới sông thổi tới. Phía xa, một đoàn khất sĩ thấp thoáng, nhàn tản bước trên đường với màu áo vàng nhuộm cả một góc trời, hòa cùng những tia nắng vàng sớm mai rực rỡ. Tôi ngắm nhìn họ cho mãi tận khi bóng họ đã khuất xa. Ngày xưa, Phật tổ Như Lai đã bắt đầu như thế. Cho đến hôm nay, ngàn đời kiếp sau, các tu sĩ vẫn tiếp bước theo người một cách thầm lặng, bền bỉ và dẻo dai. Người hành đạo khi đi vào đời để cứu độ luôn lấy y bát làm vật sở hữu duy nhất của mình, luôn sống nếp sống thanh bạch, giữ phạm hạnh thanh cao và đem lòng từ bi đối xử với tất cả mọi người và mọi loài. Ở họ luôn đong đầy thứ tình thương mà muôn loài đang khao khát - ấy là lòng từ bi. Từ là thứ tình thương có thể đem đến an vui cho kẻ khác, bi là thứ tình thương có thể làm vơi đi những nỗi đau của kẻ khác. Từ bi khác với tình thương mà người đời thường nói tới – là tình thương dựa vào ý niệm “tôi” và “của tôi” cho nên bản chất của nó còn là sự vướng mắc và phân biệt. Ở họ là thứ tình thương ngang nhau đối với mọi người và mọi loài. Ở họ, toát ra một lối sống thanh bạch và an lạc. Nó xa lạ với những lối sống dung tục hưởng lạc. Lối sống buông thả, đắm chìm trong dục lạc có thể cho con người ta ảo tưởng về hạnh phúc, nhưng thật sự chỉ toàn khổ đau. Nó cũng khác xa với lối sống hành hạ thân xác cho hao mòn. Lối sống ép xác khổ hạnh trong hiện tại để mưu cầu hạnh phúc trong tương lai đều là trái với lời Phật dạy. Sự sống chỉ có mặt trong giây phút hiện tại, hy sinh hiện tại là phế bỏ sự sống. Phương pháp tu học của Phật là con đường trung đạo, nó vượt ra ngoài hai cách sống vừa kể, nó là phép sống đem lại hạnh phúc trong hiện tại và trong cả tương lai… 
 
Tiếng chuông từ ngôi chùa trên phố sát bờ sông vang nên ngân nga làm tôi bừng tỉnh: “lắng lòng nghe, lắng lòng nghe – tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm”.

 
Viêng Chăn, tháng Ba năm 2012.
Nguyễn Vũ Lực.
 
(Với mong muốn góp phần nhỏ nhoi vào việc hoằng pháp lợi sinh mà Phật chỉ dạy, tôi mạnh dạn sử dụng những tư liệu, câu chữ trong tác phẩm “Đường xưa mây trắng” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh vào bài viết của mình (http://www.phapamthuongchuyen.com/media.php?Act=PlayAlbum&ID=62) . Hiểu biết về phật pháp của tôi còn hạn hẹp, hiểu sao viết vậy. Xin chân thành cám ơn bạn đọc, đồng hương xa gần. Email của tôi vu_luc@hotmail.com).  
 

Nguồn: hanhthien.net
Người gửi: Nguyễn Vũ Lực



Tin Bài khác

Liên kết

Nét tổng quan về làng Hành ThiệnGửi bài viết, tài liệuFacebook làng Hành Thiện

Đăng ký nhận tin

Thiet ke web ha noi, thiet ke logo ha noi